|
Labadorite trong suốt ở Ketchikan, Alaska (Bản tin tháng 09/2009)
Tháng 3 năm 2008,
GIA nhận được vài mẫu đá trong suốt màu vàng rất nhạt đến
vàng rất nhạt phớt nâu được cho là albite-oligoclase (plagioclase
Natri) từ Ketchikan, Alaska. Ông Dudley Blauwet đã tặng một số viên
cho GIA và một số khác thì cho mượn. Chúng được nhặt bằng tay
từ những viên sỏi trên bãi biển ở một vùng cách 2 giờ đi
thuyền từ một thị trấn miền duyên hải của Ketchikan, sau đó
chúng đã được cung cấp lại cho ông Blauwet. Người cung cấp hàng
này đã đến vùng nhặt đá ấy mỗi năm một lần, suốt 10 năm qua
trong mỗi chuyến đi kéo dài khoảng 3 – 4 ngày, ông thu nhặt được
khoảng 300 – 600 g đá thô. Hầu hết các viên sỏi là rất nhỏ nên
ông chỉ thu nhặt những viên khoảng 3 mm trở lên, hiếm khi ông tìm
thấy được những viên nặng đến gần 5 g. Khoảng 40% số đá thô thu
thập được là có khả năng mài giác. Hơn 1.000 ct đã được cắt mài
với trọng lượng thường dưới 1 – 2 ct, tuy nhiên cũng có vài viên
khá lớn (nặng nhất là khoảng 12 ct). Hầu hết các viên đá này
đã được bán ở dạng đá rời hoặc gắn trên nữ trang cho những
khách du lịch bằng thuyền khi họ đến thăm Ketchikan.
Các mẫu vật mà
ông Blauwet cung cấp gồm 2 viên hình oval mài giác cúc, một viên
nặng 0,75 ct, viên còn lại nặng 1,1 ct (hình 1) và 4 viên đá thô
nặng từ 0,6 – 2 g. Những tính chất sau được ghi nhận từ các
mẫu đá (trừ chiết suất và lưỡng chiết suất chỉ đo được trên 2
viên đá mài giác) như: màu sắc: vàng rất nhạt đến vàng phớt
nâu; chiết suất RI: 1,561 – 1,570; lưỡng chiết suất: 0,009; tỷ
trọng SG: 2,69 – 2,72; phát huỳnh quang: trơ dưới UV sóng dài và
đỏ yếu dưới UV sóng ngắn; không thấy được vạch phổ nào dưới
phổ kế để bàn. Với các đặc điểm ấy có thể kết luận đây là
labradorite (tham khảo thêm trong Gems quyển số 6 được biên
tập bởi M. O’Donoghue và Butterworth-Heinemann, Oxford, UK, 2006,
trang 263 – 267; quyển Winter 2006 GNI, trang 274 – 275). Quan sát
dưới kính hiển vi phát hiện được các tinh thể nhỏ, chắn sáng
màu nâu sậm đến đen cũng như nhiều bao thể dạng kim nằm trên
một mặt phẳng.
|
 |
|
Hình
1: Hai viên labradorite (1,1 và 0,75 ct) được mài từ
các mẫu đá ở bãi sỏi gần Ketchikan, Alaska. Ảnh của
Robert Weldon; viên đá 0,75 ct nằm trong bộ sưu tập của
GIA mã số 37787. |
Trong 6 mẫu vật
được phân tích hóa bằng máy LA-ICP-MS (Phổ khối lượng – Plasma kép
– Bắn laser), phương pháp này cũng được dùng khi phân tích labradorite
ở Mexico đã được trình bày trong quyển Winter 2006 GNI. Ngoài những
giá trị chiết suất RI tương ứng được liệt kê ở trên, thành phần của tất
cả các mẫu vẫt cũng tương ứng với labradorite: từ ~Ab32-42Or2-3An55-66
– đến các albite cuối cùng (albite- khoáng giàu natri), orthoclase
(khoáng giàu kali) và anorthite (khoáng giàu canxi). Tất cả các mẫu
đều chứa một lượng nhỏ sắt, như chúng ta biết rằng ion Fe3+
ở các mặt tứ diện của
plagioclase tạo ra màu vàng nhạt
(http://minerrals.catech.edu/color_causes/metal_ion/index.htm).
Phổ UV-Vis-NIR đọc được đỉnh ở vị trí 380 nm và một đỉnh hấp
thu rất yếu ở 420 nm. Theo O’Donoghue (2006, trang 267) ghi nhận
những hấp thu ở vị trí 380 và 420 nm trong plagioslase là do ion
Fe3+.
Labradorite là
plagioclase trong đó Ca chiếm ưu thế (An50-70), nó khác
biệt với plagioclase Na (albite-oligoclase, An0-30) bởi
trị số chiết suất của nó cao hơn. Các viên labradorite chất
lượng quý từ không màu đến vàng nhạt được biết đến ở nhiều
khu vực khác nhau của vùng Tây Nam châu Mỹ như Oregon, Utah, New
Mexico và Mexico (theo quyển Winter 2006 GNI, trang 274 – 275). Đây
là lần đầu tiên chúng tôi thấy được khoáng vật như thế từ Alaska.
(Theo HyeJin Jang-Green, trong GemNews Spring 2009) |