|
Chrysoprase Và Prase Opal Ở Haneti, Khu Vực Trung Tâm Tanzania – 1 (Bản
tin tháng 10/2010)
|
 |
Hình
1: Chrysoprase ở Tanzania (trái: các viên cabochon nặng từ
3,72 – 18,42 ct) và prase opal (gốc trên, trái: 35,82 ct)
được khai thác từ mỏ đá gần Haneti. Tất cả các mẫu đá thô
được sử dụng trong nghiên cứu này. Đá được hiến tặng bởi
Dimitri Mantheakis cho bộ sưu tập GIA số hiệu 37910-37914 (phải)
và 37909 (gốc trên, trái). Ảnh của Robert Weldon.
|
Chrysoprase và prase
opal là chalcedony lục chứa nickel và opal thông thường (opal không có
hiệu ứng đốm màu nhấp nháy tán sắc - play of color). Cả hai được sử dụng
như những khoáng vật quý từ hàng ngàn năm qua. Chrysoprase được mô tả là
loại có giá nhất của chalcedony bởi Webster, 1994. Khu vực trung tâm
Tanzania là một nguồn quan trọng có cả hai loại đá quý này. Những khoáng
vật Tanzania lúc đầu được mô tả vắn tắt bởi Gubelin, 1975 và Schmetzer,
1976. Báo cáo này dựa theo mô tả đặc điểm về prase opal lục của Koivula
và Fryer, 1984 và một nghiên cứu chi tiết hơn về chrysoprase của
Kinnunen và Malisa, 1990.
Bài này mô tả ngắn
gọn những đặc điểm địa lý, vùng mỏ khai thác và tính chất ngọc học của
chrysoprase và prase opal Tanzania chất lượng cao từ mỏ ở vùng núi Iyobo
gần Haneti (hình 1). Mỏ này được hoạt động dưới quyền của ông Dimitri
Mantheakis. Mặc dù cả hai khoáng này đã được phát hiện ở nhiều nơi khác
trên thế giới (bảng 1), nhưng Tanzania có lẽ là nguồn chrysoprase quan
trọng nhất sau Australia.
BỐI CẢNH:
Màu lục của chrysoprase một thời gian dài được cho là được tạo ra bởi
một hay nhiều hợp chất nickel lục siêu nhỏ (như Ni2+). Mặc dù
có nhiều ý kiến tranh luận qua hơn 2 thế kỷ nhưng tính xác thực về nguồn
gốc tự nhiên của những hợp chất nickel này vẫn còn tiếp tục được thảo
luận (Natkaniec-Nowak, 1989). Một số nhà nghiên cứu cho nó là nickel
oxide (có thể là khoáng bunsenite; xem Heflik, 1989) nhưng cuối cùng
những nghiên cứu về phổ và hình ảnh phóng đại cao đã bác bỏ ý kiến này (xem
Rossman, 1994; Gawel, 1997). Hầu hết những người khác cho rằng thành
phần tạo màu là do silicate nickel phân lớp hay silicate nickel khung bị
hydrate hóa (như kerolite) hay các khoáng vật sét chứa nickel (như
garnierite, lizardite hay saponite; xem Rossman, 1994, trang 458-459;
Nagase, 1997; Dyrek, 2001; Sachanbiński, 2001; Sojka, 2004).
Bảng 1: Những
nguồn chrysoprase và prase opal khác trên thế giới
|
Vị
trí |
Môi
trường địa chất |
Tham
khảo |
|
Chrysoprase |
|
|
|
Marlborough, Queensland, Australia |
Serpenitite phong hóa và tổ ong hóa hay các đá siêu mafic
khác |
Brooks
(1965), Krosch (1990), O’Brien (1997), Brown (2000), Osmond
và Baker (2009) |
|
Warrawanda, phía tây australia |
Serpentinite phong hóa và biến đổi liên quan đến granite |
Nagase và những người khác (1997) |
|
Yerilla Station, phía tây Australia |
Các mạch
trong quặng sắt silic phong hóa |
Jones
(1994a,b)
Brown
(2000) |
|
Niquelandia, Goias, Brazil |
Mỏ galena
(?) |
Kammerling và những người khác (1990) |
|
Saxony,
Đức |
Chưa báo
cáo |
Wittern
(2001) |
|
Niigata
Prefecture, Honshu, Nhật Bản |
Chưa báo
cáo |
Mindat.org (2009) |
|
Sarykul
Boldy, Kazakhstan |
Mỏ nickel
trong vùng serpentinite phong hóa |
Sachnbiński
và những người khác
(2001) |
|
Ambatondrazaka, madagascar |
Chưa báo
cáo |
Behier
(1963) |
|
Szklary,
Lower Silesia, Poland |
Mỏ nickel
trong vùng serpentinite phong hóa |
Drzymala
và Serkies (1973), Niśkiewicz (1982), Heflik (1989),
Sachnbiński (2001) |
|
Phía nam
dãy Ural, Russia |
Chưa báo
cáo |
Mikhailov
(2000) |
|
Hạt
Tulare, California |
Chưa báo
cáo |
O’Donoghue (1995) |
|
Ở
Arizona, California, Massachusetts, USA, Oregon, Rhode
Island và Vermont |
Chưa báo
cáo |
Mindat.org (2009) |
|
Prase
opal |
|
|
|
Nam
Bohemia, Czech Republic |
Chưa báo
cáo |
Duda và
những người khác (1991) |
|
Silesia,
Poland |
Chưa báo
cáo |
Drzymala
và Serkies (1973), Webster (1994) |
|
Phía nam
dãy Ural, Russia |
Mạch nhỏ
trong “mỏ crôm” |
Mikhailov
(2000) |
|
Hạt Napa,
California |
Chưa báo
cáo |
“Prase
opal ở California”, 1936 |
Hợp
chất nickel là các phần tử chất keo nhỏ, được phân tán thành những bao
thể quanh chất nền silica chủ. Sự có mặt của một lượng nhỏ sắt (như Fe3+)
có thể làm thay đổi màu của chrysoprase sang màu lục phớt vàng hơn,
ngược lại sự phân tán ánh sáng từ chỗ hỏng rất nhỏ hay những phần tử nhỏ
trong khoáng vật trong mờ (“Hiệu ứng Tyndall”) được cho là nguyên nhân
của sự xuất hiện màu lục phớt xanh hơn được thấy trong ánh sáng phản
chiếu (Sachanbiński, 2001). Gawel và những người khác (1997) đã nghiên
cứu chrysoprase từ nhiều địa phương và kết luận rằng những mẫu có mức độ
kết tinh thấp hơn dường như có lượng nickel cao hơn và có màu lục đậm
hơn. Có lẽ các phần tử tán sắc của các khoáng chứa nickel cũng tạo màu
cho prase opal lục từ Tanzania, vì thế phổ nhìn thấy của cả 2 khoáng đều
tương tự nhau (xem phần kết quả). Schmetzer và những người khác mô tả
khoáng này như là opal-CT.
Bởi vì bề ngoài của
chúng có màu lục từ đục đến trong mờ và khả năng tạo độ bóng tốt nên cả
chrysoprase và prase opal đều được sử dụng để thay thế cẩm thạch. Agate
tẩm màu lục và thủy tinh màu lục thỉnh thoảng lại được sử dụng để nhái
chrysoprase (O’Donoghue, 2006). Chalcedony màu lục crôm cũng được tìm
thấy ở Australia, Bolivia và Zimbabwe (khoáng vật mtorolite từ
Zimbabwe; xem Phillips và Brown, 1989; Hyršl và Petrov, 1998; Hyršl,
1999; Willing và Stocklmayer, 2003). Các khoáng dùng khắc tượng có màu
lục vàng có độ trong từ đục đến bán trong mờ từ Australia được bán với
tên gọi “chrysoprase vàng chanh” được mô tả là một loại đá chứa
magnesite (khoáng vật màu trắng đến xám nhạt, vàng hoặc nâu, công thức
hóa học là MgCO3, thành tạo do sự biến đổi của dolomit hoặc
của đá giáu silicat magiê) và thạch anh (Johnson và Koivula, 1996) hay
của cả 2 khoáng trên đi cùng với chrysoprase (Henn và Milisenda, 1997).
Tất cả những khoáng vật khác này đều có những đặc điểm ngọc học riêng có
thể dùng để phân biệt với chrysoprase và prase opal.
Vị Trí Và Mô Tả Đặc Điểm Khoáng Vật
Tanzania:
Vị trí địa lý:
Chrysoprase
được tìm thấy ở 3 ngọn đồi lân cận nằm cách ~12km về phía đông nam làng
Haneti và 12 km về phía bắc làng Itiso. Haneti nằm cách 75 km về phía
bắc Dodoma dọc theo quốc lộ A104. Mỏ được khai thác bởi ông Mentheakis,
nằm gần đỉnh cực nam của 3 ngọn đồi (tức là núi Iyobo), ở 5o31,90’S,
35o59,33’E và ở độ cao 1.452 m. Vùng này có thể đến được
trong suốt mùa khô (từ tháng 4 đến tháng 11) qua một con đường bụi bậm
từ Dodoma đến Haneti và từ đó đến mỏ lại phải qua thêm một con đường bụi
bậm và gồ ghề nữa.
Địa chất học:
Theo Kinnunen
và Malisa (1990), đá của vùng mỏ Haneti thì có tuổi Archean (Arkei, tiền
Cambri) gồm các đá biến chất siêu mafic tạo nên 3 ngọn đồi chứa
chrysoprase. Những ngọn đồi này nằm thẳng hàng theo hướng tây bắc đánh
dấu hướng của những vùng nứt cắt. Họ mô tả loại đá gốc chrysoprase chiếm
ưu thế là serpentinite silic hóa và sắt hóa (các gốc silica- và sắt- bị
biến đổi).
Cả chrysoprase và
prase opal đều ở dạng mạch không liên tục, dày đến nhiều centimet và dài
đến nhiều mét trong đá chủ bị phong hóa. Theo ông Mantheakis các mạch
chrysoprase hiện diện nhiều hơn ở sườn phía tây và phần gần chóp của núi
Iyobo; tuy nhiên một số vùng hầu như không có khoáng này. Trong một mạch
và giữa hai mạch khác nhau, khoáng vật có thể thay đổi từ trong mờ chất
lượng cao đến đục chất lượng thấp. Chrysoprase đẹp nhất thường ở những
vùng có mạch được bao quanh bởi đất sét hay đất đỏ, trong khi khoáng vật
có chất lượng xấu hơn được tìm thấy ở những nơi có mạch được bao quanh
bởi các khoáng màu phớt vàng. Prase opal chất lượng tốt nhất được tìm
thấy trong những mạch có đá gốc rất dễ vỡ.
Khai thác:
Mặc dù ở cùng
thời điểm cũng có một số mạch magnesite giàu Ni được khai thác ở vùng
này nhưng chỉ có mỏ ở vùng Haneti là có chrysoprase và prase opal là có
thể sử dụng cho cả mục đích đá quý và trang sức (Kinnunen và Malisa,
1990). Theo ông Mantheakis thì chrysoprase lúc đầu được tìm thấy ở đây
vào đầu thập niên 60 và khai thác có giới hạn trước khi quyền đặc nhượng
bị quốc hữu hóa bởi chính phủ vào năm 1973, sau đó mỏ không còn hoạt
động. Ông Mantheakis, một công dân ở Tanzania phục hồi mỏ vào năm 1986
và năm 1997 được cho toàn quyền khai thác đất đai cả khu vực này.
|
 |
Hình
2: Một đoạn cuối của mạch chrysoprase/prase opal có màu lục
sáng đến lục đậm kéo dài, vạt nhọn đến chấm dứt. Ảnh của B.
M. Laurs |
Việc khai thác hiện
nay được thực hiện ở hầm mỏ lộ thiên trên đỉnh núi Iyobo. Khoảng 30
người địa phương được thuê trong suốt mùa khô. Có 28 hầm mỏ được khai
thác trên núi, diện tích từ ~20 đến 250 m2. Thiết bị cơ khí
hóa được sử dụng để khai quật những vùng chứa mạch có đá quý, sau đó
được đào bới lên bằng công cụ cầm tay. Những thợ mỏ theo các mạch cho
đến khi mạch này chấm dứt (hình 2) và chrysoprase và prase opal được lấy
ra bằng tay (hình 3) và đặt vào những chiếc túi để vận chuyển đến chỗ
phân loại.
Khai thác
chrysoprase dao động từ khoảng 100 kg đến khoảng 1.000 kg/ tháng; khai
thác hàng năm từ 7-10 tấn. Sản lượng này là cho đá thô “không sàng”, bao
gồm một số chrysoprase còn lẫn chất nền. Sau khi phân loại và cắt tỉa
thì có ~20-30% chrysoprase được đưa ra thị trường, nhưng trong đó chỉ có
3-5% là có chất lượng cao (trong mờ, màu đậm, đều thích hợp để mài thành
những viên cabochon hấp dẫn). Prase opal thì có ít hơn: Trong thập kỷ
trước đã phát hiện được 2 vùng có mỏ, đem lại tổng cộng 1,5 tấn opal còn
lẫn đá nền gốc.
|
 |
Hình
3: Mạch chrysoprase và prase opal đặc trưng được lấy ra từ
nền đá gốc. Ảnh của B. M. Laurs |
Khoáng vật có chất
lượng tốt hơn được gởi đến Dar es Salaam để cắt gọt và đánh bóng thành
những viên cabochon. Một số đá thô có chất lượng thấp hơn được làm thành
các hạt. Khoáng vật được bán ở các quầy bán sỉ và lẻ ở Dar es Salaam và
các hội chợ thương mại quốc tế. Ông Mantheakis cho biết rằng kế hoạch
khai thác của ông dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường địa phương. Ông làm
đường để bảo vệ được nhiều cây lớn và hầu hết các hầm mỏ được đào lên
đúng tiến độ khai thác. Ông ước lượng rằng vẫn còn 80% quặng chưa được
khai thác. (Còn tiếp) |