Phát Hiện Mới Grossular Màu Lục Ở Merelani, Tanzania (Bản tin tháng 05/2013)

Spinel Sao Nhân Tạo Nhái Đá Mặt Trăng

Hình 7: Viên đá spinel nhân tạo ~ 5 ct này dùng để nhái đá mặt trăng dưới chiếu sáng khuếch tán, nhưng dưới chiếu sáng trực tiếp thì thấy có hiệu ứng sao rõ ràng. Ảnh chụp bởi Robinson McMurtry (trái). Don Mengason (phải).

Phòng giám định Carlsbad vừa nghiên cứu một viên đá hình tròn, mài dạng cabochon màu trắng đục, với dáng vẻ bên ngoài như thế, lúc đầu nó được cho là đá mặt trăng (hình 7). Mẫu này có hiệu ứng trong suốt phớt xanh rõ ràng dưới chiếu sáng khuếch tán. Tuy nhiên khi xem dưới nguồn ánh sáng trực tiếp như đèn sợi quang học thì nó có sao rõ ràng (hình 7, bên phải). Sao này gồm 4 cặp tia, một hình dạng hơi bất thường.

Hình 8: Các sợi dày đặc sắp xếp lộn xộn khắp viên spinel sao nhân tạo, xem ở độ phóng đại 60 lần, là nguyên nhân tạo ra hiệu ứng sao. Ảnh chụp bởi Nathan Renfro.

Nghiên cứu ngọc học cho thấy các đặc điểm phù hợp với spinel nhân tạo, gồm chiết suất điểm là 1,72 và phát quang lục mạnh dưới chiếu xạ UV sóng ngắn. Nghiên cứu dưới kính hiển vi thấy một mạng lưới các sợi dọc ngang lộn xộn dày đặc, các tinh thể sắp xếp định hướng khắp viên đá (hình 8). Dưới đèn phân cực với vị trí hai kính phân cực vuông góc, các mạng lưới lộn xộn này có sức căng đáng kể. Và khi xem dưới độ phóng đại thấy lớp phủ kim loại màu xanh ở phía sau viên cabochon. Dưới ánh sáng phản chiếu dễ thấy các chỗ có lớp phủ bị bong ra (hình 18). Lớp phủ này rõ ràng được thêm vào để tạo ra hiệu ứng giống với hiệu ứng trong suốt màu xanh thường thấy ở đá mặt trăng.

Hình 9: Những chỗ hỏng trong lớp phủ kim loại màu xanh phía sau viên spinel sao nhân tạo, thấy rõ dưới ánh sáng phản chiếu khi phóng đại 100 lần. Ảnh chụp bởi Nathan Renfro.

Do được gắn trên nữ trang nên không thể nghiên cứu thêm các đặc điểm khác như chỉ số tỷ trọng, kiểm tra đầu tiên cần thiết để khẳng định việc xác định viên đá dạng cabochon này. Phổ EDXRF cho thấy Al và Mg là các nguyên tố chính phù hợp với thành phần của spinel. Các vi nguyên tố phụ là sắt, titanium và chromium.

Các tinh thể sắp xếp định hướng thành mạng lưới dày đặc các sợi dọc ngang lộn xộn được cho là nguyên nhân tạo ra hiệu ứng sao và hình dạng 4 cánh phù hợp với cấu trúc tinh thể hình lập phương của spinel. Spinel sao nhân tạo chưa từng được công bố trước đây và spinel sao nhái đá mặt trăng như thế này cũng chưa từng được biết đến. Do có thể mua được dễ dàng các viên đá mặt trăng và giá cả của nó cũng phải chăng nên không chắc rằng có nhiều mẫu như thế này xuất hiện trên thị trường. Tuy nhiên người mua vẫn nên hiểu rằng ở mức giá cả này thì cũng có thể có đá nhái. Và mặc dù viên cabochon này được chứng minh là đá nhái nhân tạo nhưng nó có thể được đánh giá là một mẫu thú vị do đặc tính riêng của nó. 

(Theo Nathan Renfro trong Lab Notes, quyển G&G Spring 2011)

Phát Hiện Mới Grossular Màu Lục Ở Merelani, Tanzania

Hình 10: Những tinh thể grossular này (1,49 – 26,86 g) được tìm thấy vào giữa tháng 12 năm 2010 từ Merelani, Tanzania. Bộ sưu tập của Palagems.com; ảnh chụp bởi Robert Weldon.

Tại Hội Chợ Đá Quý Và Khoáng Vật Tucson, Bill Larson (Palagems.com, Fallbrook, California) và Steve Ulatowski (New Era Gems, Grass Valley, California) giới thiệu một số viên grossular màu lục mới khai thác từ Tanzania rất ấn tượng bởi độ trong suốt và màu đẹp. Họ nói chúng được khai thác vào giữa tháng 12 năm 2010 từ Lô D của các mỏ tanzanite Merelani. Tất cả sản phẩm mới này được cho là khai thác từ cùng một túi quặng gồm khoảng 0,5 kg tinh thể grossular và không chứa bất kỳ viên tanzanite nào. Các tinh thể bóng láng và có dạng tinh thể hoàn hảo (hình 10); chỉ một số ít viên có dính vài hạt nhỏ bẩn quặng là graphite. Sự hiện diện của graphite trên đáy của một số tinh thể làm cho chúng tối đi khi xem ở một vài hướng. Nhiều viên đá quý được cắt mài từ grossular này, có viên đến gần 100 ct và chúng có màu đậm hơn garnet màu “lục bạc hà” đặc trưng từ quặng này (hình 11).

Hình 11: So với garnet màu “lục bạc hà” đặc trưng (ở giữa, 10,62 ct) từ Tanzania, thì sản phẩm mới này có màu đậm hơn (bên trái và bên phải; 8,67 và 17,13 ct). Bộ sưu tập của New Era Gems; ảnh chụp bởi Jeff Scovil.

(Theo Brendan M. Laurs trong Gem News Interational, quyển G&G Spring 2011)

Đá Cavansite Mài Giác

Cavansite là khoáng hiếm calcium vanadium phyllosilicate lúc đầu là kết tập dạng cầu có sợi. Hầu hết cavansite trên thị trường được lấy ra từ các hốc trong các khối đá nguồn gốc basalt gần Pune, Ấn Độ, là một phần của Deccan Traps nổi tiếng (xem M. F. Makki, “Tìm thấy cavansite ở phức hệ lộ thiên Wagholi, Pune, Maharashtra, Ấn Độ”, Mineralogical Record – Tạp Chí Khoáng Vật Học, Vol. 36, No. 6, 2005, trang 507 – 512). Màu xanh đậm sáng của khoáng vật này làm cho nó được những người sưu tầm khoáng săn lùng, nhưng nó không được sử dụng như một loại đá quý do độ bền và độ cứng thấp (theo thang độ cứng Mohs là 3,5).

Tại Hội Chợ Mua Bán Đá Quý Và Trang Sức (GJX), Mauro Panto thuộc Beauty, Tập Đoàn Rocks, Perugia, Italy giới thiệu nhiều viên cavansite mài giác (hình 12). Hầu hết các viên có trọng lượng từ 1 – 5 ct, hiếm viên có trọng lượng nặng đến 10 ct. Theo ông Panto thì có khoảng 500 ct được mài giác từ trước đến nay, tất cả đều có màu đặc trưng của khoáng cavansite từ xanh sáng đến xanh phớt lục.

Hình 12: Ba viên đá màu xanh sáng (1,45 – 2,45 ct) này là các mẫu mài giác của khoáng cavansite hiếm gặp. Ảnh chụp bởi Robert Weldon.

Cavansite mài giác rất khó do các tinh thể dạng sợi nên rất dễ bị nứt vỡ, tách lớp khi cắt mài. Theo ông Panto, khoáng vật này được mài giác bằng một phương pháp thích hợp không ảnh hưởng đến độ bền hay bất kỳ xử lý nào. Do đặc tính kết tập tự nhiên của khoáng nên các viên đá cắt mài thường chứa các lỗ hỏng nhỏ và chỉ những viên có chất lượng cao mới không có các lỗ hay vết ngấn. Hầu hết chúng đều trong mờ.

Cho dù nó được dùng với mục đích làm đá sưu tập nhưng ông Panto cho biết một vài nhà thiết kế đã sử dụng cavansite mài giác để gắn trên nữ trang. Do sản lượng cavansite có giới hạn và các viên chất lượng cao thích hợp mài giác thì hiếm và đắt tiền nên chỉ một lượng hạn chế khoáng được cắt mài được dự đoán là sẽ xuất hiện trên thị trường trong thời tương lai. 

(Theo Thomas W. Overton (toverton@gia.edu), GIA, Carlsbad trong Gem News International, quyển G&G Spring 2011)

Sự Giao Thoa Màu Quang Phổ Trong Thạch Anh Ở Ấn Độ

Tại Hội Chợ Đá Quý Và Khoáng Vật Pueblo, nhiều viên thạch anh hấp dẫn được mua bán với tên gọi “Anandalite” bởi Nirvana Stone (Tokyo và Osaka, Nhật Bản). Khi quan sát thoáng qua thì khoáng vật này có dạng đám tinh thể thạch anh thông thường nhưng khi kiểm tra kỹ hơn dưới ánh sáng trực tiếp thì thấy một hiện tượng khác biệt: các màu trong dãy quang phổ giao thoa tạo thành các mặt thoi nhỏ. Những tinh đám này có nhiều kích cỡ khác nhau, từ vài gram đến hàng trăm gram (hình 13). Hầu hết các tinh thể thạch anh riêng lẻ có chiều dài khoảng 5 mm, với một số mẫu tinh thể đặc biệt dài đến ~15 mm. Màu của các viên thạch anh này từ không màu đến màu tím rất nhạt; các viên đá mài giác cũng có kích cỡ đến vài carat. Những người buôn bán đá cho rằng nguồn này từ Ấn Độ nhưng không cho biết địa phương chính xác.

Hình 13: Thạch anh này từ Ấn Độ (tinh đám 46 g và viên mài giác 0,29 ct) có sự giao thoa màu quang phổ do song tinh đa hợp. Ảnh chụp bởi Robert Weldon.

Hiện tượng này trong thạch anh được biết là “hiệu ứng Lowell” sau khi người buôn đá quý Jack Lowell, ông là người lần đầu tiên thấy nó trong amethyst từ Artigas, Uruguay. Hiệu ứng này cũng được thấy trong thạch anh và amethyst ở Orissa, Ấn Độ và bang Washington (E.G Gubelin và J.I.Koivula, Photoatlas of Inclusions in Gemstones, Vol. 2, Opinio Verlag, Basel, Thụy Sỹ, 2005, trang 568 và 644). Nguyên nhân của sự hiện diện hiện tượng này là do các song tinh đa hợp dọc theo các mặt thoi nhỏ (hình 14). Kết quả của sự song tinh này là do sự biến đổi trong môi trường tăng trưởng trong suốt giai đoạn cuối của quá trình hình thành khoáng vật, do thực tế đã tạo nên rất nhiều tinh thể trong tinh đám cho thấy hiện tượng này hình thành ở cùng một giai đoạn tăng trưởng.

Hình 14: Vị trí mặt sau của các màu giao thoa cho thấy đặc điểm này là hiện tượng tự nhiên trong thạch anh chứ không phải là kết quả từ việc phủ màu. Ảnh chụp hiển vi bởi N. Renfro; phóng đại 20 lần.

Đây không phải là lần đầu tiên loại khoáng vật có hiệu ứng giao thoa màu quang phổ như thế này được công bố, nhưng đây là lần đầu tiên nó được khai thác số lượng lớn đủ để tung ra thị trường. Vì hiện tượng này rất giống với sự phát tán ngũ sắc từ các khe nứt được lấp đầy khí, nên loại thạch anh có hiện tượng này có thể đã bị bỏ qua trong quá khứ. (Theo Nathan Renfro (Nrenfro@gia.edu) và John I. Koivula, Phòng giám định GIA, Carlsbad trong Gem News International, quyển G&G Spring 2011)