|
Haüyne
Màu Lục Vàng Chất Lượng Quý Từ Núi Lửa Oldoinyo Lengai, Miền Nam
Tanzania (Bản tin tháng 08/2010)
Núi lửa Oldoinyo
Lengai nằm ở vùng Gregory Rift, Nam Tanzania là dạng núi lửa
carbonatite còn đang hoạt động duy nhất trên thế giới (theo Dawson,
1962; Keller và Krafft, 1990; Mitchell và Dawson, 2007). Nó là núi lửa
phân tầng đặc trưng và có độ cao 2.952 m (hình 1). Nó chứa nhiều đá núi
lửa silica chưa bão hòa bất thường bao gồm nephenilite, phonolite và các
natrocarbonatite. Các tro bụi, cuội núi lửa (lapilli), tuff (chỉ tất cả
các đá vụn núi lửa đã gắn kết) và các dăm kết núi lửa (agglomerate) nằm
xen kẻ với các dòng lava (dung nham). Các dăm kết núi lửa bao gồm các
khối đá xâm nhập sâu (plutonic) giàu feldspathoid bất thường như urtite
và ijolite.
|
 |
Hình
1: Ở độ cao 2.952 m, núi lửa Oldoinyo Lengai ở Nam Tanzania
là núi nửa carbonatite đang hoạt động duy nhất trên thế giới.
Ảnh của E. O. Zaitseva. |
Trong chuyến đi đến
vùng núi lửa Oldoinyo Lengai năm 2003, các nhà nghiên cứu từ đại học
Freiburg, Đức phát hiện một khối đá plutonic kích thước dài nhất ~0,35
m, có thành phần là một nửa ijolite và một nửa là urtite. Khối đá có
dạng hạt thô và thể pegmatic chứa phần chính là nepheline và diopsite;
một lượng nhỏ magnetite, apatite và perovskite. Nó còn chứa các tinh thể
tha hình (dạng vô định hình) màu vàng phớt lục nhạt chất lượng quý, lớn
đến 7 cm, tinh thể đó sau cùng được xác định là haüyne (hình 2), công
thức đặc trưng là Na6Ca2(Al6Si6O24)(SO4)2.
Tuy nhiên các dữ liệu đã ấn bản về haüyne cho thấy rằng nó được mô tả là
có các thành phần Ca và Na có thể thay đổi, điển hình nó còn chứa một số
K, (SO4)2- và cả Cl và S2- nữa (theo
Deer và những người khác, 2004). Vì thế công thức chung hơn của haüyne
có thể được viết như sau (Na,Ca,K)4-8(Al6Si6O24)(SO4,S,Cl)1-2.
|
 |
Hình
2: Tinh thể haüyne lớn (đến 7 cm) được bao trong phiến đá
này, nó bao gồm ijolite-urtite. Ảnh của A. N. Zaitsev. |
Thành phần và phương
pháp:
Các mẫu haüyne đo
được từ 10 – 15 mm được lấy ra từ khối đá vùng núi Oldoinyo Lengai và
được mài thành 3 viên mài giác khoảng 1,5 ct/1 viên (hình 3). Tất cả đều
mài giác cúc với các hình dạng như tròn, nệm vuông cổ điển và tam giác.
Các đặc tính ngọc học được xác định trên cả 3 viên đá mài giác (chiết
suất RI đo bằng chiết suất kế, tỷ trọng SG và phát quang UV) và trên một
số hạt tha hình (đo chiết suất bằng phương pháp nhúng – mẫu vật được
nhúng trong dung dịch có chiết suất đã biết trước) tại trường đại học
của bang St. Petersburg, Nga sử dụng thiết bị tiêu chuẩn. Độ cứng được
xác định trên một mảnh thô sử dụng bộ khoáng vật có độ cứng mẫu theo
thang Mohs.
|
 |
Hình
3: Chiếc nhẫn bạc này được gắn một viên haüyne mài tròn,
giác cúc nặng 1,53 ct được mài giác cho nghiên cứu này. Ảnh
chụp bởi A. A. Antonov. |
Thành phần hóa học
được xác định trên mảnh đá thô ở bảo tàng lịch sử tự nhiên ở London bằng:
(1) kính hiển vi điện tử quét – phổ kế phân tán năng lượng (SEM-EDS) và
(2) phân tích đốt cháy (phân tích các khí sau khi mẫu bị đốt cháy, khi
bị đốt sẽ làm gẫy các liên kết trả lại thành phần hợp thành ban đầu) đối
với C, H và N. Hơn nữa, phân tích huỳnh quang tia X phân tán năng lượng
(EDXRF) trên mẫu bột cũng đã được thực hiện ở đại học Freiburg. Một viên
đá mài giác cũng được nghiên cứu bằng SEM-EDS với áp suất thay đổi (không
mẫu nào bị xử lý phủ màu). Phân tích nhiễu xạ tia X, xác định cấu trúc
đơn tinh thể và phổ hồng ngoại của các mẫu đá thô được thực hiện ở đại
học bang St. Petersburg. Phổ Raman của cả mẫu thô và mẫu cắt mài được
thực hiện ở trường Khoa Học Trái Đất và Địa Chất, đại học Kingston,
London.
Kết quả và thảo luận:
Khoáng vật được xác
định là haüyne dựa trên nền tảng của dạng biểu đồ từ sự nhiễu xạ tia X (tham
số mỗi đơn vị ɑ = 9,040
±
0,001 Å); đặc điểm quang học và vật lý của nó giống với đặc điểm ghi
nhận của haüyne và những khoáng vật nhóm sodalite khác (theo Deer và
những người khác, 2004; Ballirano và Maras, 2005). Tuy nhiên giá trị
chiết suất RI thấp hơn và giá trị tỷ trọng SG cao hơn so với những giá
trị ghi nhận được của haüyne màu xanh chất lượng quý bởi Kiefert và
Hänni (2000). Tuy nhiên, việc xác định là haüyne được khẳng định bởi dữ
liệu từ việc xác định cấu trúc đơn tinh thể.
Màu lục vàng của các
mẫu mà chúng tôi có khác nhiều so với các mẫu haüyne màu xanh chất lượng
quý đã được biết đến từ Eifel, Đức (Kiefert và Hänni, 2000) và Dattaw,
Myanmar (Grobon và Hainschwang, 2006). Các biến thể màu khác của haüyne
gồm có màu trắng và màu xám, lục, vàng và đỏ (theo Robert và những người
khác, 1990). Những đặc tính ngọc học của khoáng vật vùng Oldoinyo Lengai
được mô tả trong bảng 1.
Bảng 1: Những đặc
điểm của haüyne vùng Oldoinyo Lengai, Tanzania.a
|
Màu sắc |
Lục vàng/vàng
lục |
|
|
Hệ thống
màu Munsell |
YG/GY
3/1 |
|
|
Chiết
suất (chiết suất kế đo đá quý) |
1,488
±
0,002 |
|
|
Chiết
suất (phương pháp nhúng) |
1,490
±
0,002 |
|
|
Tỷ trọng
(thủy tĩnh) |
2,60 |
|
|
Phát
huỳnh quang |
|
|
|
Sóng
dài |
Cam nhạt |
|
|
Sóng
ngắn |
Trơ |
|
|
a
Những đặc điểm được xác định trên viên đá nặng 1,53 ct trong
hình 3 và trên các hạt tha hình (đo chiết suất bằng phương
pháp nhúng) và một mẫu đá thô (độ cứng Mohs). |
Phổ hồng ngoại của
haüyne vùng Oldoiny Lengai ~ 1300 – 350 cm-1 giống với phổ
của haüyne và sodalite chứa SO4 ở những địa phương khác (Ballirano
và Maras, 2005). Hơn nữa phổ hồng ngoại của các mẫu vật vùng Oldoinya
Lengai chứa các đỉnh đơn ở 1364 cm-1 [các nhóm (NO3)2-],
1499 và 1412 cm-1 [các nhóm (CO3)2-] và
1692 cm-1 cũng như một dãy rộng ở 3600 – 3400 cm-1;
hai dãy sau cùng tương ứng với các phân tử nước (Buhl và Löns, 1996;
Ballirano và Maras, 2005). Phổ Raman cho thấy rằng haüyne từ Oldoinyo
Lengai chứa các nhóm (SO4)2- được xác định bởi sự
hiện diện của các đỉnh ở 990 – 980 và 449 – 446 cm-1. Không
thấy các đỉnh ở ~ 1089 và 543 cm-1 liên quan đến nhóm S3-
như đã được thấy trong phổ Raman của haüyne xanh từ Eifel (Kiefert và
Hänni, 2000; Di Muro, 2004).
Bảng 2: Thành
phần hóa học của haüyne vùng Oldoinyo Lengai.a
|
Ôxyt
(wt.%) |
SEM-EDS |
EDXRF |
Phân
tích đốt cháy |
|
Trung
bình (10) |
Khoảng |
Trung
bình (3) |
Khoảng |
|
SiO2 |
34,24 |
33,89-34,34 |
34,01 |
na |
|
|
TiO2 |
bdl |
|
0,02 |
na |
|
|
Al2O3 |
28,95 |
28,68-29,37 |
28,91 |
na |
|
|
Fe2O3 |
0,23 |
0,20-0,29 |
0,30 |
na |
|
|
MnO |
bdl |
|
bdl |
na |
|
|
MgO |
bdl |
|
0,09 |
na |
|
|
CaO |
4,62 |
4,58-4,65 |
4,47 |
na |
|
|
Na2O |
19,88 |
19,67-19,91 |
19,00 |
na |
|
|
K2O |
1,66 |
1,57-1,79 |
1,57 |
na |
|
|
SO3 |
6,78 |
6,63-7,05 |
na |
na |
|
|
P2O5 |
bdl |
|
0,13 |
na |
|
|
CO2 |
na |
|
na |
0,49 |
0,45-0,54 |
|
N2O5 |
na |
|
na |
0,12 |
1,08-1,34 |
|
H2O |
na |
|
na |
0,92 |
0,85-0,99 |
|
Cl |
0,68 |
0,63-0,72 |
na |
|
|
|
-O=Cl2 |
0,15 |
|
|
|
|
|
Tổng |
96,89 |
|
88,50 |
2,61 |
|
|
a
Lưu ý: Cacbon, nitơ và hydrô được phân tích như các nguyên
tố và tính toán lại theo các ôxyt. Việc tính toán công thức
thực nghiệm được thực hiện bằng cách dùng phân tích SEM-EDS
và phân tích đốt cháy và xem tất cả Fe như Fe2O3.
Viết tắt: bdl=below detection limit (dưới giới hạn nhìn thấy);
na = not analyzed (không phân tích được) |
Phân tích SEM-EDS (phổ
phân tán năng lượng – kính hiển vi điện tử quét), EDXRF (phổ huỳnh quang
tia X phân tán năng lượng) và phân tích đốt cháy xác định thành phần rất
bất thường của một số điện tích âm (anion) trong haüyne. Các phân tích
cho thấy có một lượng lưu huỳnh – sulfur đáng kể (6,6 – 7,1 wt.% SO3);
lượng nhỏ nitơ (nitrogen: 1,1 – 1,3 wt.% N2O5),
nước (0,9 – 1,0 wt.% H2O), clo (chlorine: 0,6 – 0,7 wt.% Cl)
và carbon (0,4 – 0,5 wt.% CO2); và một ít phốt pho
(phosphorous: 0,1 wt.% P2O5). Ngoài những cation
chính hiện điện trong haüyne (Na, Ca, Al và Si), chúng tôi còn thấy
lượng nhỏ K ((1,6 – 1,8 wt.% K2O) và một ít Fe (0,2 – 0,3
wt.% Fe2O3) và Mg (0,1 wt.% MgO). Dựa vào những
kết quả phân tích ghi trong bảng 2, từ đó chúng tôi sắp xếp thành công
thức thực nghiệm trung bình là (Na6,75Ca0,87K0,37)S7,99(Al5,97Fe3+0,03Si6,00O24)[(SO4)0,89(OH)0,54(NO3)0,23Cl0,20(CO3)0,12]S1,98.
Theo chúng tôi biết thì đây là khoáng vật chứa nitơ tự nhiên đầu tiên
trong nhóm sodalite được biết đến.
Kết luận:
Haüyne chất lượng
quý được tìm thấy ở vùng núi lửa Oldoinyo Lengai còn đang hoạt động.
Haüyne này có màu lục vàng rất khác thường và có thành phần hóa học phức
tạp (bao gồm sự có mặt của N và C). Sản lượng trong tương lai của Haüyne
thì không biết rõ nhưng với số lượng khách đến vùng này của Tanzania
ngày càng tăng cho thấy hình như các mẫu khoáng vật này tìm được ngày
càng nhiều.
(Theo
Anatoly N. Zaitsev, Olga A. Zaitseva, Alexander K. Buyko, Jorg Keller,
Jurgis Klaudius và Andrei A. Zolotarev, trong Rapid Communications, G&G
Fall 2009) |